Nhựa Thảo Long

TỔNG QUAN NGÀNH NHỰA ( PHẦN 1 )

Nhựa là một trong những nguyên liệu phổ biến được sử dụng để sản xuất các sản phẩm tiêu dùng hàng ngày cũng như là đầu vào quan trọng của nhiều ngành công nghiệp. Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các sản phẩm nhựa ngày càng đa dạng, và được sử dụng thay thế nhiều loại vật liệu truyền thống như sắt thép, thủy tinh… Vì vậy, ngành công nghiệp nhựa ngày càng phát triển và trở thành một trong những ngành quan trọng trong nền kinh tế.

1. Tổng quan ngành nhựa

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, ngành công nghiệp Nhựa dù còn non trẻ so với các ngành công nghiệp lâu đời khác như cơ khí, điện – điện tử, hoá chất, dệt may… nhưng đã có sự phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Ngành Nhựa giai đoạn 2010 – 2020, là một trong những ngành công nghiệp có tăng trưởng cao nhất Việt Nam với mức tăng hàng năm từ 16% – 18% (chỉ sau ngành viễn thông và dệt may), có những mặt hàng tốc độ tăng trưởng đạt gần 100%/năm. 

Với tốc độ phát triển nhanh, ngành Nhựa đang được coi là một ngành năng động trong nền kinh tế Việt Nam. Sự tăng trưởng đó xuất phát từ thị trường rộng, tiềm năng lớn và đặc biệt là vì ngành nhựa Việt Nam mới chỉ ở bước đầu của sự phát triển so với thế giới và sản phẩm nhựa được sử dụng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống bao gồm sản phẩm bao bì nhựa, sản phẩm nhựa vật liệu xây dựng, sản phẩm nhựa gia dụng và sản phẩm nhựa kỹ thuật cao.

2. Tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Ngành nhựa là một trong những ngành công nghiệp khá non trẻ của Việt Nam nhưng có tốc độ phát triển rất nhanh. Cho đến nay ngành này đã có hơn 4.000 doanh nghiệp trong đó hơn 99% là doanh nghiệp tư nhân, tập trung chủ yếu ở khu vực miền Nam (chiếm tới trên 80% số doanh nghiệp nhựa cả nước) do đây là khu vực tập trung nhiều khu công nghiệp chế biến là đầu ra của các sản phẩm nhựa bao bì. Đa số các doanh nghiệp ngành nhựa là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó có tới hơn 90% doanh nghiệp nhựa Việt Nam làm gia công cho nước ngoài mà chưa xây dựng được thương hiệu riêng của mình.

Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành nhựa Việt Nam nhìn chung vẫn còn thấp do chủ yếu có quy mô nhỏ và trình độ công nghệ hạn chế. Hiện tại, các doanh nghiệp nhựa Việt Nam sử dụng chủ yếu công nghệ của Trung Quốc. Máy móc thiết bị và dây chuyền sản xuất nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm tới hơn 40%. Tuy nhiên, gần đây nhiều doanh nghiệp nhựa đã đầu tư sử dụng công nghệ cao hơn của Hàn Quốc, Nhật Bản cho các sản phẩm nhựa kỹ thuật, hay công nghệ Đức cho các sản phẩm nhựa xây dựng.

3. Cơ cấu sản phẩm và nguyên liệu

Các sản phẩm nhựa mà Việt Nam có thế mạnh sản xuất là bao bì, sản phẩm nhựa tiêu dùng, sản phẩm nhựa xây dựng và một số sản phẩm nhựa kỹ thuật cao như ống dẫn dầu, thiết bị nhựa sản xuất ô tô và máy vi tính. Nhưng nhìn chung, các sản phẩm nhựa Việt Nam chưa đa dạng về mẫu mã, chủng loại và chưa có nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Về cơ cấu sản phẩm nhựa có thể chia thành các nhóm sản phẩm chính là: Nhựa bao bì, Nhựa gia dụng, Nhựa xây dựng và Nhựa kỹ thuật.

Bảng 1: Các nhóm sản phẩm nhựa chính do Việt Nam sản xuất

Sản phẩmTỷ trọngCông nghệChínhNguyênliệu chínhSản phẩmchủ yếuĐầu ra chính
Nhựa bao bì39%Công nghệ đùn thổiPE, PP, PETBao bì màng mỏng, túi ni lông, chai nhựa PETDoanh nghiệp chế biến thực phẩm, đồ uống và các hệ thống bán lẻ, siêu thị
Nhựa gia dụng32%Công nghệép đúcPP, PS, ABSCác sản phẩm đồ gia dụngNgười tiêu dùng
Nhựa xây dựng14%Công nghệép đùnPE, PVCỐng nhựa xây dựng, nhựa vật liệu xây dựngDoanh nghiệp bất động sản, xây dựng Người tiêu dùng
Nhựa kỹ thuật9%Công nghệ phun épPVC, PP, PUCác loại linh phụ kiệnCác doanh nghiệp điện tử, điện lực, ô tô xe máy

Nguồn: Tổng hợp báo cáo VPAS

Nguyên liệu nhựa nguyên sinh được làm từ dầu mỏ, than đá và khí thiên nhiên sau quá trình hóa nhựa. Các sản phẩm nhựa có thể được hình thành từ nguyên liệu nhựa nguyên sinh hoặc nguyên liệu nhựa tái chế. Hiện tại, ngành nhựa Việt Nam mới chỉ tự chủ được khoảng 15-35% nguyên liệu tùy chủng loại sản phẩm, còn lại phải nhập khẩu nguyên liệu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và khu vực ASEAN.

Lý do nguyên liệu ngành nhựa Việt Nam chủ yếu nhập khẩu là do đầu tư sản xuất nguyên liệu nhựa thường yêu cầu vốn lớn, bao gồm cả vốn đầu tư ban đầu và vốn lưu động trong quá trình vận hành. Trong khi nhu cầu nguyên liệu nhựa nguyên sinh trong nước tăng trưởng trên 10%/năm thì tốc độ tăng trưởng của nguồn cung chỉ chưa đến 3%/năm.

Trong thời gian qua, Việt Nam đã phát triển các dự án hóa dầu lớn nhằm cung cấp nguyên liệu cho ngành nhựa như dự án lọc hóa dầu Bình Sơn, Nghi Sơn, nhựa và hóa chất Phú Mỹ, TPC, Hưng Nghiệp Formosa… Mặc dù vậy, nguyên liệu nhựa nguyên sinh vẫn chỉ đáp ứng được khoảng 18% nhu cầu tiêu thụ trong nước.

4. Đầu tư nước ngoài vào ngành nhựa

So sánh với nhiều ngành công nghiệp khác, đầu tư nước ngoài vào ngành nhựa vẫn còn rất nhiều tiềm năng đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Trong thời gian qua, ngành nhựa Việt Nam chứng kiến một làn sóng dịch chuyển đầu tư lớn từ Trung Quốc sang Việt Nam vì nhiều lý do: Chi phí nhân công rẻ hơn ở Trung Quốc, một số chính sách mới của Trung Quốc liên quan đến cấm nhập khẩu nhựa phế thải ảnh hưởng đến các hoạt động tái chế nhựa của các doanh nghiệp nước này, nhựa Trung Quốc bị áp thuế chống bán phá giá ở một số thị trường trong đó có châu Âu…

Thêm vào đó, cùng với việc Việt Nam ký kết nhiều Hiệp định thương mại tự do với nhiều đối tác lớn mở thêm nhiều cơ hội về đầu tư và xuất khẩu, đã thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào ngành nhựa Việt Nam, đặc biệt là các nhà đầu tư ASEAN (Thái Lan, Indonesia), Hàn Quốc, Nhật Bản đã đầu tư, mua cổ phần ở các công ty nhựa lớn của Việt Nam. Hiện tại, số lượng doanh nghiệp nhựa nội địa chiếm khoảng 85% còn lại 15% là các doanh nghiệp có vốn nước ngoài.

Sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường nhựa Việt Nam đã làm thay đổi đáng kể diện mạo của ngành này. Một mặt sự tham gia của khối ngoại đã làm cho thị trường đầu tư trong lĩnh vực này sôi động hơn, thu hút được nguồn vốn và kỹ thuật từ nước ngoài vào giúp hiện đại hóa hơn ngành công nghiệp nhựa trong nước. Mặt khác các doanh nghiệp nhựa thuần nội địa sẽ phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nhựa nước ngoài có tiềm lực mạnh hơn, dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp nhựa Việt Nam phải bán lại thương hiệu cho nước ngoài, hoặc rời khỏi thị trường.

5. Kim ngạch xuất nhập khẩu ngành nhựa Việt Nam

Trong nhiều năm qua, ngành nhựa luôn ở trong tình trạng nhập siêu, với kim ngạch xuất khẩu thấp hơn nhiều kim ngạch nhập khẩu. Giá trị nhập siêu đã tăng từ 7,3 tỷ USD năm 2015 lên 14,6 tỷ USD năm 2020. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhập siêu trong ngành nhựa. Thứ nhất, hiện tại nguyên liệu nhựa trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 20%, còn lại Việt Nam phải nhập khẩu tới 80% nguyên liệu từ nước ngoài. Thứ hai, một phần lớn nguyên liệu nhựa nhập khẩu được dùng để sản xuất ra các sản phẩm là đầu vào của các ngành khác như điện tử, ôtô – xe máy, xây dựng… mà khi xuất khẩu thì giá trị của thành phần nhựa trong đó không được tính vào kim ngạch xuất khẩu của ngành nhựa. Thứ ba, các sản phẩm chính của ngành nhựa là bao bì, đồ gia dụng và ống nhựa xây dựng chủ yếu phục vụ thị trường trong nước, xuất khẩu không đáng kể.

Bảng 2: Kim ngạch xuất – nhập khẩu nhựa của Việt Nam qua các năm

Đơn vị: Tỷ USD

201520162017201820192020
Nhập khẩu9,910,913,315,315,519,6
Xuất khẩu2,62,83,34,24,75
Nhập siêu7,38,110,011,110,814,6

Nguồn: Tổng hợp từ ITC Trademap

+ Kim ngạch nhập khẩu nhựa của Việt Nam

Kim ngạch nhập khẩu nhựa của Việt Nam đã tăng gần gấp 3 lần từ 5,4 tỷ USD năm 2010 lên 19,6 tỷ năm 2020. Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu trung bình của ngành nhựa trong giai đoạn 2010-2019 là khoảng 13%.

Trong cơ cấu nhập khẩu nhựa các năm qua, nhập khẩu nhựa nguyên liệu luôn chiếm hơn một nửa tổng kim ngạch nhập khẩu của ngành nhựa

Bảng 3: Cơ cấu và giá trị nhập khẩu nhựa giai đoạn 2015-2020

NămNguyên liệuSản phẩm
Giá trị(Tỷ USD)Tỷ trọng(%)Giá trị(Tỷ USD)Tỷ trọng(%)
20156,060%4,040%
20166,359%4,441%
20177,358%5,442%
20189,161%5,939%
20199,058%6,542%
202011,659%7,941%

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Năm 2020, giá trị kim ngạch nhập khẩu nhựa nguyên liệu là khoảng 11,6 tỷ USD, chiếm 59% tổng kim ngạch nhập khẩu nhựa. Trong đó, nhập khẩu nhựa nguyên sinh chiếm khoảng 98 % và phế liệu nhựa chiếm 2%. Các nguyên liệu nhựa nguyên sinh nhập khẩu nhiều nhất là nhựa PP (HS 3901), nhựa PET (HS 3907) và nhựa PP (HS 3902).

Đối với nhựa thành phẩm, các sản phẩm nhập khẩu nhiều nhất trong năm 2020 là các loại tấm, phiến, màng, lá nhựa (bán thành phẩm – mã HS 3919, 3920, 3921) chiếm khoảng một nửa tổng nhựa thành phẩm nhập khẩu, còn lại là các loại nhựa bao bì (HS 3923), nhựa nhà bếp (HS 3924), nhựa xây dựng (HS 3925) và một số loại nhựa thành phẩm khác (HS 3926).

+ Kim ngạch xuất khẩu nhựa của Việt Nam

Mặc dù giá trị kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nhựa của Việt Nam không cao so với các sản phẩm xuất khẩu chủ lực như dệt may, giày dép, đồ gỗ…, nhưng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trung bình trong giai đoạn 2010-2020 khoảng 16%, cao hơn tốc độ tăng trưởng nhập khẩu trung bình trong cùng giai đoạn là 13%. Nếu như tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nhựa năm 2010 chỉ chưa đến 1,4 tỷ USD thì đến năm 2020 con số này là gần 5 tỷ USD.

Bảng 4: Xuất khẩu nhựa của Việt Nam qua các năm

NămNguyên liệuSản phẩm
Giá trị(tỷ USD)Tỷ trọng
%
Giá trị(tỷ USD)Tỷ trọng%
20150,4018%1,8082%
20160,3616%1,8684%
20170,5117%2,5083%
20180,9724%3,0476%
20191,2727%3,4473%
20201,3527%3,6573%

Nguồn: Tổng hợp từ ITC Trade map

Về cơ cấu xuất khẩu, Việt Nam xuất khẩu các sản phẩm chủ yếu (thành phẩm và bán thành phẩm). Trước năm 2018, tỷ trọng nguyên liệu xuất khẩu chỉ chiếm dưới 20% tổng xuất khẩu nhựa của Việt Nam. Nhưng bắt đầu từ năm 2018, tỷ trọng xuất khẩu nguyên liệu nhựa đã tăng và chiếm trên 20%, cụ thể là 24% năm 2018 và 27% năm 2019 và 2020./.

Lê Anh Tú

Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến Thương mại – VIOIT

Scroll to Top